1. Kỹ thuật vê dây
Kỹ thuật vê dây từ cơ bản tới nâng cao

Các bạn thân mến,

Trong mục này là loạt bài dạy vê dây từ cơ bản đến nâng cao của cô Triệu Chân. Vidéo tiếng Hoa bài đầu tiên ở đây. Kênh không phải của Sweet. Các bạn có thể vào “Playlist” để tìm những bài khác. Trong này còn có các clip ngắn, cũng là cắt ra từ video chính, mục đích là để bạn có thể xem và tập theo cùng lúc. Theo đó, bài tập của vidéo số 1 ở đây.

Trong blog này là phần đăng phụ đề tiếng Việt do Sweet làm. Các dịch của tôi hơi khác theo thông dụng hiện nay ở cách gọi tên ngón đàn. Thường người ta hay để bính âm (Tuo/Pi). Xưa, ngày đầu tiên tôi đi học tiếng Hoa là học cái bính âm này để phát âm cho đúng. Đối với những ai không biết tiếng mà cứ chiếu theo cách đánh vần a bờ cờ, lờ sờ mờ như của ta mà đọc lên thì nghe ngọng nghịu, quái dị vô cùng, trong khi đó ta có âm Hán Việt đúng hơn hết mà không chịu xài chẳng phải uổng lắm sao ? Đọc lại các sách dạy đàn tranh Việt Nam của những bậc đi trước, tất cả đều viết bằng tiếng Việt nhẹ nhàng uyển chuyển dễ hiểu. Vậy nên tôi muốn bắt chước tối đa cái tinh thần đó trong phần làm phụ đề của mình, mong các bạn ủng hộ. Để tiện cho các bạn dễ tra cứu thêm, tên các ngón đàn sẽ luôn để bốn phần : Nguyên văn chữ Hán, bính âm, âm Hán Việt và nghĩa.

Trong loạt 20 bài này là kỹ thuật vê dây ngón cái. Chiều thuận là ngón Thác (托 – Tuo), chiều nghịch là ngón phách (劈 – Pi).


Về ngón thác :
Thác có nghĩa là gạt, đẩy; bây giờ còn thông dụng trong các cặp từ ghép như ủy thác, thoái thác, phó thác, … Trong văn phong xưa, nhứt là truyện Tàu in trước 75 thì còn cách diễn đạt “nói thác đi” tức nói trớ đi, giờ không ai dùng nữa.
Về ngón phách :
Phách (劈) có nghĩa là bổ, chẻ, bửa. Thí dụ như trong truyện Tam quốc có viết như sau : 量管亥怎敵得雲長, 數十合之間, 青龍刀起, 劈管亥於馬下 – Lượng Quản Hợi chẩm địch đắc Vân Trường, sổ thập hợp chi gian, thanh long đao khởi, phách Quản Hợi ư mã hạ – Lượng Quản Hợi sao địch nổi Vân Trường, mới được vài mươi hiệp, cây thanh long đao đưa lên, bửa Quản Hợi chết dưới ngựa.
Cũng âm phách, nhưng viết 拍 thì có nghĩa là vỗ, đập, tát, vả. Nghĩa gần gần như chữ phách ở trên. Trong âm nhạc, chúng ta hay nói tới nhịp phách thì chữ phách đó là viết 拍 như thế này. Ngay từ buổi vỡ lòng, ở bài đàn đầu tiên, ai trong chúng ta cũng phải học cách đánh nhịp : một ô nhịp có 2 phách, chúng ta đập chân hai lần, đúng không ?
Cũng gần với nghĩa bổ, chẻ, bửa, ta còn có chữ phạt 伐. Chữ này như trong chinh phạt, phạt vạ, phạt cây…; cây liềm phát cỏ cũng là biến âm từ chữ phạt này.
Trở lại kỹ thuật vê dây ngón cái, gọi Thác – Phách thì cả hai đều thuộc thanh trắc hết nên Sweet đổi chữ phách sang chữ phạt. Tuy cũng là thanh trắc, nhưng đọc “thác – phạt” sẽ thuận tai hơn mà nghĩa vẫn không đổi, hơn nữa lại vẫn đi liền một cặp âm Hán Việt, không trùng với phách trong nhịp phách.

Sau đây là vidéo số 1 kèm phụ đề tiếng Việt.

Trong bài, tới phút thứ 23, có bảng chương trình học. Tựu chung có 6 giai đoạn. Vì nhiều chữ quá, choán hết cả màn hình, nên xin biên ra đây như sau cho các bạn dễ theo dõi.

Giai đoạn 1 (từ chặng 1 – 4) : Tập vê đều, vê theo số nốt định sẵn
Giai đoạn 2 (từ chặng 5 – 7) : Tập vê theo nhiều dạng nhịp phách khác nhau.
Giai đoạn 3 (từ chặng 8 – 11) : Tập tăng khả năng điều khiển dây
Giai đoạn 4 (từ chặng 12 – 14) : Tập vê với cường độ mạnh yếu khác nhau
Giai đoạn 5 (từ chặng 15 – 17) : Vê biến thể
Giai đoạn 6 (từ chặng 18 – 20) : Vê quét, vê hai ngón, ba ngón

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *